Close

About Viet SEO


WEB DESIGN & GOOGLE OPTIMIZATION

T: +84 917 212 969

* Website đang xây dựng, CHƯA CHÍNH THỨC sử dụng. Tin tức, bài viết, sản phẩm chỉ đăng làm mẫu!
* CẦN MUA TÊN MIỀN "XINGIAYPHEP.CAPBAOCHAY.COM", vui lòng liên hệ 0908 744 256 - 0917 212 969 (Mr. Thanh)

* Hoàn thuế giá trị gia tăng: 0915.79.79.54 - 0916.777.915

Hoàn thuế đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu

    Cơ sở kinh doanh trong tháng/quý có hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu có số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế giá trị gia tăng theo tháng, quý; trường hợp trong tháng, quý số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ chưa đủ 300 triệu đồng thì được khấu trừ vào tháng, quý tiếp theo;

Trường hợp chuyển đổi, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, phá sản, chấm dứt hoạt động

Cơ sở kinh doanh nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế được hoàn thuế giá trị gia tăng khi chuyển đổi sở hữu, chuyển đổi doanh nghiệp, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, phá sản, chấm dứt hoạt động có số thuế giá trị gia tăng nộp thừa hoặc số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ hết.

Hoàn thuế GTGT đối với các chương trình, dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) không hoàn lại hoặc viện trợ không hoàn lại, viện trợ nhân đạo.

Đối tượng được hưởng quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao theo quy định của pháp luật về ưu đãi miễn trừ ngoại giao mua hàng hóa, dịch vụ tại Việt Nam



Người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước mang hộ chiếu hoặc giấy tờ nhập cảnh do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp được hoàn thuế đối với hàng hoá mua tại Việt Nam

Cơ sở kinh doanh có quyết định xử lý hoàn thuế của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật và trường hợp hoàn thuế giá trị gia tăng theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Tổ chức, cá nhân kinh doanh, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ phải chịu thuế giá trị gia tăng (GTGT). Tuy nhiên, pháp luật quy định có một số trường hợp được hoàn thuế GTGT.

Trường hợp nào được hoàn thuế GTGT?

Điều 13 Luật Thuế giá trị gia tăng 2008 (sửa đổi, bổ sung 2013, 2016) quy định các trường hợp được hoàn thuế GTGT gồm:

Trường hợp 1: Cơ sở kinh doanh đã đăng ký nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ có dự án đầu tư mới, đang trong giai đoạn đầu tư có số thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ mua vào sử dụng cho đầu tư mà chưa được khấu trừ và có số thuế còn lại từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT.

Trường hợp 2:  Cơ sở kinh doanh trong tháng, quý có hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu nếu có số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT theo tháng, quý.

Lưu ý: Trường hợp cơ sở kinh doanh có hàng hóa nhập khẩu để xuất khẩu, hàng hóa xuất khẩu không thực hiện việc xuất khẩu tại địa bàn hoạt động hải quan theo quy định của Luật Hải quan thì không được hoàn thuế.

Trường hợp 3:  Cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế được hoàn thuế GTGT khi chuyển đổi sở hữu, chuyển đổi doanh nghiệp, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, phá sản, chấm dứt hoạt động có số thuế GTGT nộp thừa hoặc số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết.

Trường hợp 4: Người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mang hộ chiếu hoặc giấy tờ nhập cảnh do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp được hoàn thuế đối với hàng hóa mua tại Việt Nam mang theo người khi xuất cảnh.

Trường hợp 5: Tổ chức ở Việt Nam sử dụng tiền viện trợ không hoàn lại, tiền viện trợ nhân đạo của tổ chức, cá nhân nước ngoài để mua hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho chương trình, dự án viện trợ không hoàn lại, viện trợ nhân đạo tại Việt Nam thì hoàn số thuế GTGT đã trả cho hàng hóa, dịch vụ đó.



Trường hợp 6: Đối tượng được hưởng quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao theo quy định của pháp luật về ưu đãi miễn trừ ngoại giao mua hàng hóa, dịch vụ tại Việt Nam để sử dụng được hoàn số thuế GTGT đã trả ghi trên hóa đơn GTGT hoặc trên chứng từ thanh toán ghi giá thanh toán đã có thuế GTGT.

Trường hợp 7: Cơ sở kinh doanh có quyết định hoàn thuế GTGT của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật và trường hợp hoàn thuế GTGT theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Thủ tục hoàn thuế giá trị gia tăng

Căn cứ Thông tư 156/2013/TT-BTC, hoàn thuế GTGT được thực hiện theo các bước sau:

Bước 1: Chuẩn bị hồ sơ hoàn thuế

Hồ sơ hoàn thuế gồm: Giấy đề nghị hoàn trả Khoản thu ngân sách nhà nước (mẫu 01/ĐNHT ban hành kèm theo Thông tư số 156/2013/TT-BTC) và các tài liệu liên quan đến yêu cầu hoàn thuế.

Bước 2: Nộp hồ sơ hoàn thuế

Hồ sơ hoàn thuế được nộp một bộ tại cơ quan thuế quản lý trực tiếp hoặc tại cơ quan hải quan có thẩm quyền hoàn thuế. Người nộp thuế được gửi hồ sơ hoàn thuế điện tử hoặc nộp trực tiếp tại cơ quan thuế hoặc gửi qua đường bưu chính.

Bước 3: Xử lý hồ sơ, ra quyết định và trả tiền thuế GTGT cho người nộp thuế

Khoản 1 Điều 59 Thông tư 156/2013/TT-BTC, Cục Thuế căn cứ Quyết định hoàn thuế, lập Lệnh hoàn trả khoản thu ngân sách nhà nước theo mẫu quy định; căn cứ Quyết định hoàn thuế kiêm bù trừ thu ngân sách nhà nước, lập Lệnh hoàn trả kiêm bù trừ thu ngân sách nhà nước theo mẫu quy định gửi Kho bạc nhà nước đồng cấp.

Thời hạn giải quyết hoàn thuế

Căn cứ Thông tư 99/2016/TT-BTC, thời hạn giải quyết yêu cầu hoàn thuế được chia thành 02 trường hợp:

- Đối với hồ sơ hoàn thuế thuộc diện hoàn thuế trước, kiểm tra sau

+ Nếu hồ sơ hoàn thuế không thuộc đối tượng và trường hợp được hoàn hoặc chưa đủ thông tin để xác định thì cơ quan thuế gửi thông báo cho người nộp thuế trong vòng 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ.



+ Nếu đủ điều kiện hoàn thuế thì cơ quan thuế ban hành quyết định hoàn thuế trong thời hạn không 06 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ.

- Đối với hồ sơ hoàn thuế thuộc diện kiểm tra trước, hoàn thuế sau: Cơ quan thuế tiến hành kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế và ban hành quyết định hoàn thuế trong thời hạn không quá 40 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hoàn thuế.

- Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh chi hoàn thuế cho người nộp chậm nhất là 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được Lệnh hoàn trả khoản thu ngân sách nhà nước.

Điều kiện và thủ tục được hoàn thuế giá trị gia tăng

1. Những trường hợp được hoàn thuế giá trị gia tăng

Theo Thông tư 219/2013/TT-BTC tại Điều 18 quy định đối tượng và trường hợp được hoàn thuế GTGT như sau:

Thứ nhất, cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế nếu có số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết trong tháng (đối với trường hợp kê khai theo tháng) hoặc trong quý (đối với trường hợp kê khai theo quý) thì được khấu trừ vào kỳ tiếp theo. Trường hợp lũy kế sau ít nhất 12 tháng tính từ tháng đầu tiên hoặc sau ít nhất 4 quý tính từ quý đầu tiên phát sinh số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết mà vẫn còn số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết thì cơ sở kinh doanh được hoàn thuế.

Thứ hai, là cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư đã đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, hoặc dự án tìm kiếm thăm dò và phát triển mỏ dầu khí đang trong giai đoạn đầu tư, chưa đi vào hoạt động, nếu thời gian đầu tư từ 1 năm (12 tháng) trở lên  thì được hoàn thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ sử dụng cho đầu tư theo từng năm. Trường hợp, nếu số thuế GTGT luỹ kế của hàng hoá, dịch vụ mua vào sử dụng cho đầu tư từ 300 triệu đồng trở lên thì  được hoàn thuế GTGT.

Thứ ba, hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư mới. Trường hợp cơ sở kinh doanh đang hoạt động thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ có dự án đầu tư mới (trừ dự án đầu tư xây dựng nhà để bán) cùng tỉnh, thành phố, đang trong giai đoạn đầu tư thì cơ sở kinh doanh thực hiện kê khai riêng đối với dự án đầu tư và phải kết chuyển thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư để bù trừ với việc kê

Hoàn thuế giá trị gia tăng

Hoàn thuế giá trị gia tăng được hiểu là một khoản thuế được nhà nước trả lại mà đối tượng nộp thuế đã nộp xong xuôi cho Ngân sách Nhà nước. Cụ thể hơn là ngân sách nhà nước trả lại cho đơn vị kinh doanh, tổ chức doanh nghiệp, cá nhân mua hàng hóa, dịch vụ. Số tiền thuế được trả là số tiền thuế đầu vào khi bạn trả mua hàng hóa dịch vụ mà đơn vị kinh doanh chưa được khấu trừ trong kỳ tính thuế. Hoặc đơn vị, cá nhân đó không thuộc diện chịu thuế.
Công ty seo web SEO tiềm năng phải có thể cung cấp cho bạn ước, Nếu đang dự định thuê SEO, bạn nên làm càng sớm càng tốt. Thời điểm thích hợp nhất để thuê SEO là khi bạn đang cân nhắc việc thiết kế lại trang web,
Tư vấn xin giấy phép hội thảo Để xin giấy phép tổ chức sự kiện cần thực, Việc tổ chức các sự kiện, hội thảo ngày càng phổ biến với quy mô ngày càng lớn. Để tổ chức được một sự kiện thì đơn vị đứng ra tổ chức phải

PVN ra quyết định cổ phần hóa Công ty BSR

Theo đó, Công ty BSR sẽ được cổ phần hóa và thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp được Tập đoàn quy định hết ngày 31.12.2015.

Việc triển khai cổ phần hóa Công ty BSR là thực hiện chủ trương của Chính phủ theo quy định tại Nghị định số 59/2011/NĐ-CP và Nghị định 189/2013/NĐ-CP.   Công ty BSR, đơn vị quản lý, vận hành Nhà máy Lọc dầu Dung Quất nhiều năm qua là doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao. Sản phẩm chính gồm: Propylene, polypropylene, khí hóa lỏng, xăng RON 92 và 95, xăng E5/E10, nhiên liệu phản lực JET A1, dầu hỏa, dầu Diesel, dầu nhiên liệu và lưu huỳnh.    

Lĩnh vực kinh doanh chính của Công ty là sản xuất, bán buôn và bán lẻ các sản phẩm dầu mỏ, sản phẩm trung gian, nhiên liệu sinh học, hạt nhựa Polypropylene. Ngoài ra, Công ty còn cung cấp dịch vụ bảo dưỡng sửa chữa và tư vấn kỹ thuật; đào tạo và cung ứng nguồn nhân lực trong công nghiệp lọc - hóa dầu...  

Công ty BSR quản lý vận hành NMLD Dung Quất

ổn định ở công suất thiết kế. Đặc biệt, Nhà máy đã đạt kỷ lục vận hành hơn 630 ngày đêm liên tục, an toàn, ổn định và hiệu quả. Với thành tích này, BSR đã được các đơn vị cung cấp bản quyền công nghệ và các công ty tái bảo hiểm có uy tín trên thế giới cấp chứng nhận là đơn vị “Vận hành xuất sắc” (Operational excellence). Tính đến tháng 11.2015, BSR đạt mốc 5 triệu giờ công an toàn.   Từ khi Nhà máy Lọc dầu Dung Quất đi vào hoạt động đến nay, Công ty đã sản xuất 36,283 triệu tấn sản phẩm xăng dầu các loại; đạt doanh thu thuần khoảng trên 710 ngàn tỷ đồng; nộp ngân sách nhà nước 120,3 ngàn tỷ đồng. Công ty BSR cũng đã nhập tổng cộng 514 chuyến dầu thô an toàn với tổng khối lượng khoảng trên 40 triệu tấn (tính từ cuối năm 2008 đến nay).  

Riêng 10 tháng đầu năm 2015, Công ty BSR đã sản xuất được trên 5,64 triệu tấn sản phẩm các loại, đạt 116% kế hoạch 10 tháng và hơn 96% kế hoạch năm; Tiêu thụ trên 5,52 triệu tấn sản phẩm, đạt 113% kế hoạch 10 tháng và 94% kế hoạch năm. Đặc biệt, Công ty đã nộp ngân sách nhà nước ước trên 18,3 ngàn tỷ đồng, đạt 136% kế hoạch 10 tháng và 114% kế hoạch năm. Được biết tại thời điểm 31.12.2014, BSR có vốn điều lệ là 35.000 tỷ đồng, với hơn 1.500 lao động và là một trong sáu doanh nghiệp có quy mô lớn nhất Việt Nam.

  Thời gian qua, Công ty BSR đã chủ động triển khai công tác chuẩn bị thực hiện chiến lược cổ phần hóa Công ty như: Hoàn thành việc xây dựng phương án cổ phần hóa trình Tập đoàn Dầu khí Việt Nam; Xúc tiến các hoạt động liên quan đến tìm kiếm đối tác mua cổ phần, đối tác tư vấn định giá tài sản Công ty; Đề xuất nhân sự Tổ giúp việc cổ phần hóa; Đặc biệt là xây dựng đề án truyền thông phục vụ lộ trình cổ phần hóa Công ty trong năm 2016.
  Trộm cắp làm ‘sập’

ty Công ty CP luyện thép Gia Sàng (GSS), tiền thân là Nhà máy luyện thép Gia Sàng (P.Gia Sàng, TP.Thái Nguyên), đơn vị thành viên của Công ty gang thép Thái Nguyên do Cộng hòa dân chủ Đức tài trợ xây dựng từ năm 1971 với công suất 70.000 tấn/năm.  

Từ năm 2007, GSS chuyển sang hoạt động theo mô hình công ty cổ phần, nhà nước nắm

phần gần 40%. Sau một vài năm đầu kinh doanh có lãi thì từ năm 2011, GSS liên tục thua lỗ, đến năm 2013 thì ngừng hoạt động với tổng lỗ lũy kế đến nay gần 140 tỉ đồng. Đáng chú ý, đại diện GSS cho rằng việc liên tục thua lỗ và ngừng hoạt động có nguyên nhân lớn là do bị “mất cắp tài sản”. Báo cáo của GSS gửi Bộ Công thương mới đây cho biết, tổng giá trị tài sản, thiết bị thất thoát không còn trong kho tính đến tháng 11.2014 là 31,8 tỉ đồng bao gồm ở hầu hết các hạng mục của nhà máy.  

Dẫn PV Thanh Niên đi một vòng

nhà máy, ông Trần Quang Minh, Phó phòng Kinh doanh GSS lắc đầu ngao ngán: “Có những thiết bị rất nặng, như khuôn đúc ở xưởng luyện thép nặng cả chục tấn, muốn di dời phải dùng tới cần cẩu đến nay cũng không cánh mà bay”. Theo quan sát, không chỉ lò luyện thép mà ở phân xưởng cán thép, xưởng cơ khí... đều trong khung cảnh hoang phế, những loại máy móc thiết bị nào còn lại cũng hoen gỉ bởi nhà xưởng bị rách nát.   Theo ông Minh, năm 2012 công ty có 535 lao động nhưng đến nay chỉ còn 374 người với thu nhập bình quân hơn 1,7 triệu đồng/người/tháng.

Tổng quỹ lương của công ty năm 2012 trên 12,8 tỉ đồng nhưng vẫn đang nợ tiền lương của người lao động từ tháng 9.2012, nợ BHXH tỉnh 2,1 tỉ đồng. Đến cuối năm 2014, công ty còn 244 lao động. “Hiện nay công ty chỉ duy trì 16 người, trong đó có 4 người là lãnh đạo để giải quyết hậu quả và 12 người là bảo vệ. Tất cả đều không lương, anh em chán ngán lắm rồi nhưng chúng tôi động viên nhau, nếu bỏ làm thì toàn bộ tài sản trong nhà máy mất hết”, ông Minh nói.   Hồi tháng 7.2014, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thái Nguyên đã khởi tố vụ án, bắt giam 4 người là cán bộ, bảo vệ của GSS. Trong đó, ông Lê Xuân Hộ (tức Động), Phó tổng giám đốc công ty, người nắm gần 20% cổ phần GSS; Dương Minh Vang, Phó quản đốc phân xưởng cán thép; Đoàn Bá Huấn, Phó quản đốc phân xưởng cán thép bị khởi tố, bắt tạm giam về hành vi lợi dụng chức vụ trong khi thi hành công vụ. Bùi Hồng Dương, nhân viên bảo vệ bị khởi tố, bắt

giam về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng.  

Những người này bị cáo buộc cho xe ô tô tải vào khu vực sản xuất của công ty với mục đích dọn dẹp vệ sinh nhưng sau đó đã chở phôi thép ra ngoài. Trong quá trình điều tra, cơ quan CSĐT còn phát hiện một khối lượng lớn thiết bị, vật tư bị đánh cắp, thất thoát trị giá lên cả tỉ đồng.

  Cảng Quy Nhơn tê liệt vì công nhân xếp dỡ đòi quyền lợi về lương, thưởng Theo các công nhân, việc đình công này bắt đầu từ 14 giờ ngày 28.8 nhằm đòi quyền lợi về tiền thưởng và các khoản thu nhập khác. Nguyên nhân là do thời gian gần đây, tổng thu nhập của công nhân thấp hơn so với cách đây 2 năm dù thời gian làm việc tăng lên.   “Mấy năm trước, bình quân mỗi tháng tôi làm khoảng 30 ca (mỗi ca 6 giờ đồng hồ) thì thu nhập được khoảng 12 triệu đồng/tháng, bao gồm tiền lương, thưởng quý, tiền làm ca, hỗ trợ độc hại, bảo hộ lao động...

Nhưng hiện nay mỗi tháng làm bình quân 35 ca thì thu nhập chỉ còn khoảng 10 triệu đồng.   Lượng hàng hóa qua Cảng Quy Nhơn ngày càng tăng sao thu nhập của công nhân ngày càng thấp?”, một công nhân bức xúc nói. Theo các công nhân, thu nhập gần đây bị giảm xuống là do từ tháng 6.2015, Công ty cổ phần cảng Quy Nhơn đã thông báo “tạm thời đình chỉ khoản thưởng quý” và một số khoản thu nhập khác. Ngoài ra, nhiều công nhân còn bức xúc do công ty phát tiền thưởng